VNINDEX1188.88 (19.61 1.68%)440,781,740 CP 10,159.54 Tỷ 318 74 142HNXINDEX277.18 (7.79 2.89%)60,106,383 CP 1,296.45 Tỷ 152 210 41VN301240.58 (13.4 1.09%)120,869,825 CP 4,159.75 Tỷ 20 1 9HNX30492.63 (20.47 4.34%)31,202,000 CP 758.00 Tỷ 26 3 1

Sóng Elliott là gì? Cách xác định, giao dịch với sóng Elliott

Nhắc đến phân tích kỹ thuật thì không thể không nhắc đến lý thuyết Dow - nền tảng của nguyên lý cơ bản. Bên cạnh đó, có một lý thuyết khác cũng có khá nhiều điểm tương đồng với lý thuyết Dow nhưng để đi sâu hơn vào phân tích cụ thể các cấu trúc chu kỳ của xu hướng giá vào lý thuyết mà thêm một kiến thức muốn nhắc đến chỉ có thể là sóng Elliott. Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu thêm về nội dung của lý thuyết sóng Elliott là gì, các điều kiện cần có, các mẫu hình sóng Elliott và cách thức xác định biên độ của biên độ giá trong giao dịch ngoại hối. 

Sóng Elliott là gì?

song-elliott-la-gi

Tìm hiểu về hoạt động của sóng Elliott trong đầu tư

Sóng Elliott (hay tiếng anh là Elliott wave) là một trong những công cụ phổ biến và khá quan trọng trong nền tảng lý thuyết của phân tích kỹ thuật của đầu tư chứng khoán. Trong thực tế, sóng Elliott có thể giúp các nhà giao dịch nhìn rõ được xu hướng thị trường với tỉ lệ chính xác cao.

Lý thuyết sóng Elliott đã được hình thành và phát triển bởi một kế toán chuyên nghiệp, một tác giả nổi tiếng người Mỹ tên là Ralph Nelson Elliott - Sinh ngày 28/07/1871 và mất 15/01/1948. Elliott ra đời dựa trên quan điểm và kết quả của diễn biến tâm lý đám đông chính là sự hình thành của các mô hình sóng và xu hướng của giá cả trên thị trường. 

Tâm lý và hành vi đám đông diễn ra một cách tự nhiên nhưng vẫn thường tuân theo một chu kỳ nhất định, sẽ có lúc hưng phấn, cũng có lúc lại bi quan nên kết quả của nó chính là những chuyển động của giá cũng sẽ tuân theo những chu kỳ giống như thế, lúc tăng lúc giảm. 

Những chu kỳ tăng hay giảm ở đây đều được xác định bởi các mô hình riêng biệt, mà tất cả gọi là sóng Elliott và được lặp đi lặp lại.

Không phải một chỉ báo kỹ thuật hay phương pháp giao dịch nào cụ thể nhưng lý thuyết sóng Elliott giúp các nhà đầu tư xác định và có thể nhận biết xu hướng thị trường một cách tường tận nhất có thể và được áp dụng rộng rãi trên nhiều loại thị trường tài chính khác nhau như chứng khoán, ngoại hối, tiền điện tử, hàng hóa... Bất kỳ thị trường nào bị tác động bởi hành vi của đám đông đều có thể sử dụng lý thuyết sóng Elliott.

Chu kỳ sóng Elliott có cấu trúc cơ bản thế nào?

Một chu kỳ sóng Elliott hoàn chỉnh và cơ bản bao gồm 08 sóng và có cấu trúc hai pha, dạng 5-3, trong đó pha đầu tiên có 05 bước sóng được đánh dấu bằng số từ 01 đến 05 và là 05 bước sóng di chuyển theo xu hướng chính. Pha thứ hai có ba bước sóng điều chỉnh, di chuyển ngược hướng chính, được đánh dấu bằng chữ cái A, B, C. 

Cấu trúc của một chu kỳ sóng Elliott theo xu hướng tăng

Giá tăng bao gồm năm sóng từ 1 đến 5 được gọi là mô hình sóng đẩy hay sóng động lực, trong đó sóng 1 đến 3 và 5 là các bước sóng tần và sóng 2,4 là những sóng giảm. Giá giảm bao gồm ba sóng là A B C được gọi là mô hình sóng điều chỉnh, trong đó sóng A và C là giảm và một sóng B tăng.

Trong xu hướng tăng thì mô hình sóng động lực là 2 và tăng giá, mô hình sóng điều chỉnh là 1 và giảm giá. Ngược lại trong xu hướng giảm, mô hình sóng động lực là một pha giảm giá và mô hình sóng điều chỉnh là một pha tăng giá.

song-elliott-la-giHình ảnh thể hiện cấu trúc của sóng Elliott

Mô hình sóng động lực 

Theo lý thuyết sóng tìm một sóng động lực của xu hướng chính bao gồm 5 sóng nhỏ, trong đó ba sóng đẩy (theo xu hướng chính và hai sóng điều chỉnh ngược xu hướng chính. 

Tuy nhiên, trong trường hợp nhằm thỏa mãn điều kiện khi là một sóng động lực thì sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc sau: 

- Sóng 2 không thể điều chỉnh về giá sâu quá, tức là không được vượt qua điểm bắt đầu của sóng 1. Thỏa mãn điều kiện đáy sau cao hơn đáy trước trong xu hướng tăng và định sau thấp hơn đỉnh trước trong xu hướng giảm.

- Sóng 3 được cho là sóng ngắn nhất trong ba sóng 1,3,5

- Sóng 4 không đi vào vùng giá của sóng 1, nghĩa là không vượt quá điểm cuối cùng của sóng 1. 

Mô hình sóng điều chỉnh

Một sóng điều chỉnh của xu hướng chính thường bao gồm ba sóng nhỏ, trong điều kiện nó vẫn có thể có nhiều hơn ba sóng nhưng không được nhiều hơn năm sóng. Trong đó ba sóng nhỏ, có hai sóng điều chỉnh ngược xu hướng chính và một sóng đẩy theo xu hướng chính.

Sóng điều chỉnh của phương pháp Elliott sẽ thường có cấu trúc nhỏ hơn về cả thời gian hình thành và độ lớn so với sóng động lực nhưng đôi lúc sóng điều chỉnh lại khá phức tạp và khó xác định.

Trong bất kỳ một thị trường tài chính nào đó, giá cả sẽ luôn đi theo những chu kỳ tăng hay giảm luân phiên nhau. Điều này có nghĩa là trong một xu hướng chính đang tăng thì thị trường sẽ có những pha giảm xen kẽ và ngược lại. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết Dow và bây giờ nó lại đúng với lý thuyết Elliott. 

Chính vì vậy, diễn biến của thị trường sẽ luôn rơi vào hai giai đoạn đối nghịch: Giai đoạn thị trường xác nhận xu hướng chính thể hiện bằng các sóng động lực và giai đoạn thị trường đang điều chỉnh xu hướng chính đó các đợt sóng điều chỉnh.

>> Tham khảo: Hàng hóa phái sinh là gì? Đầu tư giao dịch hàng hóa phái sinh

Tính chất của “sóng trong sóng”của lý thuyết sóng Elliott

Một cấu trúc sóng Elliott hoàn chỉnh bao gồm một sóng động lực và một sóng điều chỉnh. Mỗi cấu trúc sóng này tạo thành một mắt xích nhỏ trong một cấu trúc sóng Elliott lớn hơn, mỗi cấu trúc sóng cấp hai lại tạo thành một mắt xích nhỏ trong một cấu trúc sóng Elliott lớn hơn nữa, điều này có thể lặp lại cho đến cấu trúc sóng thứ n. Và cấu trúc thứ n này được lặp đi lặp lại trong một xu hướng lớn của thị trường. Phụ thuộc vào cấu trúc khung thời gian và độ dài khoảng thời gian khi xét đến mà quan tâm vào giá trị của n là nhiều hay ít. Đây chính là tính chất "sóng trong sóng" của lý thuyết này. 

song-elliott-la-giHình ảnh minh họa về sóng Elliott

Ở hình ảnh trên, với ô vuông màu đen nhỏ nhất sẽ hiển thị là mắt xích của sóng Elliott tăng nhỏ nhất và tương xứng với các mắt xích lớn hơn là các ô vuông màu đen lớn hơn. Tương tự như vậy, ô vuông màu xanh nhỏ nhất sẽ là mắt xích sóng Elliott đang giảm nhỏ nhất. 

Sóng Elliott thể hiện lớn nhất ở hình trên là một cấu trúc sóng trong xu hướng tăng, bao gồm một sóng động lực tăng (X) gồm năm sóng 1, 2, 3, 4, 5 và một sóng điều chỉnh giảm bao gồm 3 sóng A, B, C

Trong đó sóng động lực X được cấu thành từ ba sóng nhỏ hơn và cả ba sóng này đều là ba cấu trúc sóng của xu hướng tăng. Mỗi sóng nhỏ hơn bao gồm một sóng động lực cùng hướng với X và một sóng điều chỉnh  A’, B’, C’ cùng với hướng Y.

Sóng điều chỉnh cũng được cấu thành từ hai sóng nhỏ hơn và cả hai sóng này đều là cấu trúc sóng của xu hướng giảm.

Mỗi sóng nhỏ này bao gồm một sóng động lực cùng hướng với y và một sóng điều chỉnh cùng hướng với X rồi tiếp tục tương tự cho đến những mắt xích nhỏ hơn.

Các cấp độ của sóng Elliott

Ở hình ảnh minh hoạ phía trên, sau khi sóng lớn nhất đó hoàn thành sẽ tiếp tục hình thành một sóng Elliott có cấu trúc tương tự và đồng dạng với nó, liên tiếp như vậy tạo thành một sóng có cấp độ cao hơn. Trong lý thuyết sóng Elliott được chia thành 9 cấp độ khác nhau, thường phụ thuộc vào thời gian hoàn thành mỗi cấp độ. Tuy nhiên, tất cả những sự phân chia như trên đều mang tính chất tương đối. Bên cạnh đó, trong cùng một cấp độ, quy mô và thời gian hình thành của sóng cũng có thể rất khác nhau. 09 cấp độ của sóng Elliott bao gồm: 

- Grand Supercycle: Thời gian kéo dài đến cả thế kỷ

- Super Cycle: Có thể kéo dài vài thập kỷ

- Cycle: Kéo dài từ một năm đến vài năm

- Primary: Từ một vài tháng đến một hoặc hai năm

- Intermediate: Thời gian từ vài tuần đến vài tháng

- Minor: Kéo dài từ khoảng vài tuần

- Minute: Có thể kéo dài trong vài ngày

- Minuette: Thể hiện có thể kéo dài trong vài giờ

- Sub Minuette: Là thời gian chỉ trong vòng vài phút

song-elliott-la-giCác cấp độ của sóng Elliott

Các cấu trúc mô hình sóng nâng cao Elliott

Đối với cấu trúc sóng Elliott mà chúng ta đang nhắc đến từ đầu đến giờ là cấu trúc cơ bản nhất của sóng Elliott. Trên thực tế, các sóng động lực và sóng điều chỉnh sẽ có cấu trúc phức tạp hơn rất nhiều lần. Ông Ralph Nelson Elliott cũng chỉ ra các dạng mô hình sóng khác nhau, ông đã đặt tên và mô tả những cấu trúc này rất chi tiết.

Mỗi sóng động lực sẽ được chia thành 5 sóng nhỏ, mỗi sóng điều chỉnh cơ bản thì có 3 sóng nhỏ, tổng cộng là 8 sóng nhỏ. Mỗi sóng nhỏ sẽ khác nhau về số bước sóng còn cấu thành và hình dạng cụ thể của từng bước sóng. Vậy tổng số dạng mô hình của sóng sẽ là một con số rất lớn. Chính vì điều này, trong phạm vi của bài viết này FTV sẽ chỉ giới thiệu đến các bạn các dạng mẫu hình phổ biến và đặc trưng nhất của dạng sóng Elliott. 

Các mẫu hình sóng động lực 

Sóng động lực có các dạng mẫu hình có thể kể đến là:

- Mẫu hình của sóng mở rộng mang tên Extension 

- Tam giác chéo Diagonal 

- Failed 5th - Thất bại bóng 05 hay Truncated 5th mẫu hình cụt sóng 5. 

  • Mẫu hình sóng mở rộng mang tên tiếng Anh là Extension 

Mỗi sóng 1,3,5 có thể mở rộng thành một cấu trúc với nhiều sóng hơn bên trong nó thường là 5 sóng và được mở rộng nhiều lần. Trong mô hình Extension này, chỉ có một bước sóng được mở rộng và thường là sóng 3. Tuy nhiên, vẫn thường có trường hợp sóng 1 hoặc sóng 5 có thể được mở rộng. 

Nếu sóng 3 được mở rộng thì sóng 1, sóng 5 sẽ tuân theo cấu trúc cơ bản và cũng sẽ có xu hướng cân bằng nhau. 

Sóng mở rộng có cấu trúc một impulse waves cơ bản

Nếu sóng 3 mở rộng một lần thì tổng số sóng là 9, mở rộng hai lần là 13, thậm chí là mở rộng ba lần sẽ là 17.

Khi mô hình sóng 3 mở rộng một lần, sẽ có cấu trúc sóng là 5-3-5-3-5-3-5-3-5

Sóng 3 mở rộng thành 5 sóng nhỏ, nếu nó mở rộng hai lần thì một trong 5 sóng nhỏ này sẽ mở rộng thành 5 sóng nhỏ hơn nữa.

Mô hình sóng 3 mở rộng hai lần với sóng mở rộng là sóng “i:” cấu trúc sóng là 5-3-5-3-5-3-5-3-5-3-5-3-5

Với 3 sóng mở rộng thường xuất hiện ở sóng 1, 3, 5 của sóng động lực và sóng A, C của sóng điều chỉnh.

song-elliott-la-giCác mẫu hình sóng động lực Elliott

  • Mẫu hình sóng tam giác chéo

Điểm đặc biệt của mô hình Diagonal này là khi chúng ta vẽ các đường xu hướng đi qua các đỉnh và đáy của các bước sóng thì sẽ tạo thành hình tam giác.

Mẫu hình này được chia thành hai dạng khác nhau, dựa vào cấu trúc sóng. 

Leading Diagonal Triangle có cấu trúc sóng 5-3-5-3-5 và Ending Diagonal Triangle có cấu trúc sóng là 3-3-3-3-3

Trong đó:

- Sóng 1, 3, 5 có dạng Zigzag

- Sóng 2, 3, 4 có thể theo bất kỳ dạng mẫu hình điều chỉnh nào.

- Sóng 3 thường không thể là sóng ngắn nhất

Dạng sóng Leading Diagonal Triangle (LDT) sẽ thường xuất hiện trong sóng 1 và sóng A. Còn đối với dạng sóng Ending Diagonal Triangle lại thường xuất hiện trong Diagonal là sóng 5 và C, thỉnh thoảng mới xuất hiện ở sóng 1.

  • Mẫu hình thất bại sóng 5 hay mẫu hình cụt sóng 5

Đây là mẫu hình sóng động lực, trong đó sóng 5 không thể vượt qua khỏi sóng 3. Ngoài ra trong một vài trường hợp sóng 5 có thể vượt qua sóng 3 nhưng không đáng kể thì vẫn được xếp vào dạng mẫu hình này.

Tất cả các sóng còn lại phải tuân theo cấu trúc của một sóng cơ bản.

Mô hình thất bại sóng 5 chỉ thường xuất hiện ở sóng 5 của sóng C.

Ngoài ra, còn có các dạng mẫu hình của sóng điều chỉnh là: 

- Zigzag

- Flag (mô hình phẳng) 

- Triangle (Tam giác)

song-elliott-la-gi

Các công cụ xác định của mục tiêu giá và biên độ sóng

Có 02 công cụ chủ yếu được sử dụng một cách hiệu quả nhất để thực hiện chức năng này chính là kênh giá và Fibonacci.

Kênh giá

Kênh giá sẽ thường bao gồm hai đường xu hướng song song với nhau và chứa gần như toàn bộ biên độ dao động của giá trong một sóng. Ở các mẫu hình sóng tam giác, hai đường xu hướng này mặc dù không song song nhưng trong một số tình huống, chúng ta vẫn xem nó như là một kênh giá.

Công cụ kênh giá thường được sử dụng để nhận diện các sóng có cùng cấp độ, hiệu quả trong các mẫu hình sóng động lực cơ bản, mẫu hình Zigzag hay các mẫu hình sóng tam giác.

Kênh giá thường dùng để xác định mục tiêu của sóng 3 và sóng C

Một trong các nguyên tắc khi xác định mục tiêu giá và biên độ của sóng dựa vào kênh giá đó chính là thị trường luôn luôn phải hình thành ít nhất 3 sóng.

Sau khi sóng 1 và sóng 2 hoặc sóng A và sóng B đã hình thành thì tiến hành vẽ kênh giá cho sóng động lực hoặc sóng điều chỉnh. 

Sóng động lực có đường xu hướng dưới được xác định trước, đi qua điểm bắt đầu sóng 1 và điểm cuối sóng 2. Đường xu hướng trên sẽ được xác định sau, thường là đi qua điểm cuối sóng 1 và song song với đường xu hướng dưới.

Sóng điều chỉnh với đường xu hướng trên xác định trước, đi qua điểm đầu sóng A và điểm cuối sóng B. Đường xu hướng dưới xác định sau sẽ thường đi qua điểm cuối sóng A và song song với đường xu hướng trên.

Mục tiêu giá của sóng C và sóng 3 thường tối thiểu phải nằm trên các đường xu hướng.

Tuy nhiên, trong đường xu hướng, sóng 3 thường sẽ dài hơn sóng 1 và cũng là sóng dài nhất trong mô hình của sóng động lực. Cho nên sóng 3 bắt buộc phải chạm đến kênh giá hoặc vượt ra khỏi kênh giá. Nếu không thì đó là sóng C và mô hình sóng ban đầu trở thành sóng điều chỉnh, không còn sóng động lực.

Đối với sóng C trong sóng điều chỉnh thì có mục tiêu giá có thể đạt mức chạm, vượt hoặc chưa vượt kênh giá đều được. 

Nếu sóng B và sóng 2 mà vượt ra khỏi kênh giá thì rất có thể do chúng chưa hoàn thành và thường là do đang di chuyển với cấu trúc phức tạp hơn nên chưa thể xác định được sóng 3 và sóng C. Lúc này, rất cần một công cụ khác để có thể xác định mục tiêu của sóng C và sóng 3.

Đánh giá xác định mục tiêu sóng 4

Khi sóng 3 hình thành, nhà phân tích buộc phải vẽ lại kênh giá mới và kênh giá này có thể sẽ không trùng với kênh giá ban đầu khi sóng 1 và sóng 2 hình thành như trường hợp ở trên.

song-elliott-la-giCông cụ xác định mục tiêu sóng Elliott

Kênh giá mới được xác định như sau: Với đường xu hướng trên vẽ trước, đi qua điểm cuối sóng 1 và điểm cuối sóng 3. Đường xu hướng dưới xác định vẽ sau và đi qua điểm cuối sóng 2 cũng như song song với đường xu hướng trên.

Mục tiêu giá tối thiểu của sóng 4 phải nằm trên kênh giá, sóng 4 vượt ra khỏi kênh giá và phá vỡ đường xu hướng dưới và đi vào vùng giá của sóng 1, khi đó nguyên tắc thứ ba của lý thuyết sóng Elliott sẽ bị phá vỡ.

Nếu sóng 4 không thể chạm đến kênh giá thì có nghĩa là lực của xu hướng này đang rất mạnh, có hai trường hợp xảy ra hoặc là sóng 3 chưa hoàn thành và tiếp tục đi theo một cấu trúc phức tạp hoặc đó chính là sóng 4 có lực điều chỉnh sẽ giảm rất nhỏ và thị trường cũng đang sẵn sàng cho một sự bức phá lớn ở sóng tiếp theo là sóng 5. 

Kênh giá mới được thiết lập như sau: Với đường xu hướng dưới được vẽ trước, đi qua điểm cuối của sóng 2 và điểm cuối của sóng 4 với đường xu hướng trên hệ sau, đi qua điểm cuối sóng 3 và song song với đường xu hướng dưới.

Mục tiêu giá của sóng 5 thường ít nhất sẽ chạm vào đường xu hướng trên. Trong trường hợp sóng 3 yếu hơn thì sóng 5 cũng sẽ vượt lên rất mạnh. Hay trong trường hợp sóng 5 được mở rộng thì có thể vượt ra ngoài phạm vi của kênh giá. Ngược lại, nếu sóng 3 là một sóng tăng lên mạnh mẽ và kéo dài thì sóng 5 sẽ là một sóng ngắn và có thể sẽ không chạm vào kênh giá.

Fibonacci

Khi nghiên cứu về tính chất toán học của sóng về các mẫu hình sóng, ông Ralph Nelson Elliott đã đi đến kết luận về mối quan hệ giữa Fibonacci và sóng cho rằng dãy số chính là cơ sở của lý thuyết sóng Elliott. Các mức thoái lui quan trọng của công cụ Fibonacci khi xuất hiện nhiều lần trong cấu trúc của sóng Elliott và bao gồm cả mô hình của sóng động lực và sóng điều chỉnh cơ bản trong tất cả các dạng hình sóng phức tạp hơn của chúng.

Để có thể tính toán được biên độ của sóng thì ít nhất trên thị trường đã hình thành nên sóng đầu tiên là sóng 1 của sóng impulse waves hoặc sóng A của sóng corrective waves.

Sóng 1 và sóng A là sóng cơ sở, độ dài và độ dốc của chúng sẽ quyết định đến biên độ của những sóng tiếp theo khi sử dụng.

Trên phần mềm giao dịch, để xác định biên độ của sóng động lực 3 và 5, chúng ta sử dụng Fibonacci Extension, các sóng điều chỉnh 2 và 4 thì sử dụng Fibonacci Retracement. 

Tổng kết

Lý thuyết sóng Elliott được đề cập trong bài viết này không phải là một kỹ thuật giao dịch, vì thế sẽ không có một quy tắc cụ thể nào trong việc xác định các điểm ra hay vào lệnh. Ngoài ra, việc dự đoán chính xác sóng Elliott sẽ có cấu trúc như thế nào trong đầu tư là rất khó bởi sóng này có quá nhiều biến thể khác nhau. Tuy nhiên, các nhà đầu tư trên thế giới vẫn rất ưa chuộng sử dụng lý thuyết sóng Elliott bằng cách kết hợp các công cụ phân tích khác mà công cụ xác định mục tiêu Fibonacci là một điển hình vì vừa xác định tốt được hướng di chuyển tiếp theo của thị trường, lại vừa xác định được biên độ biến động của chúng để có hướng giao dịch hiệu quả nhất. Chúc các bạn thành công !

FTV là một đơn vị chuyên tư vấn về đầu tư chứng khoán, hàng hóa phái sinh hàng đầu hiện nay

Trong năm nay ở Việt Nam thì thị trường đầu tư chứng khoán vẫn luôn là thị trường được đánh giá cao bởi là kênh tài chính thu hút đông đảo người tham gia và hấp dẫn với rất nhiều yếu tố khác nhau.

Vì chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm gì, nhưng các bạn mong muốn có thể bắt tay ngay vào đầu tư mà còn băn khoăn hay lo sợ thì có thể liên hệ ngay với Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ FTV chúng tôi. Với đội ngũ chuyên gia tư vấn đã có nhiều năm kinh nghiệm luôn tận tình tư vấn kiến thức cho các bạn 24/7.

Cần liên hệ với FTV để giải đáp những câu hỏi thắc mắc và những thêm các thông tin chi tiết khác cần biết trong đầu tư một cách nhanh chóng thì các bạn có thể liên hệ ngay qua gọi điện thoại trực tiếp đến số Hotline 0983 668 883 hoặc truy cập vào website của FTV là ftv.com.vnTrên đây là những thông tin về sóng Elliott là gì. Hy vọng đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về khái niệm này và vận dụng một cách hiệu quả.

Xem thêm:

GỬI BÌNH LUẬN MỚI
Gửi bình luận
Bình luận