VNINDEX1274.34 (0.14 0.01%)69,724,900 CP 1,483.07 Tỷ 171 240 145HNXINDEX304.14 (0.17 0.06%)11,272,569 CP 207.36 Tỷ 51 299 56VN301295.54 (1.75 0.14%)15,717,100 CP 527.39 Tỷ 11 9 10HNX30563.98 (0.47 0.08%)6,086,300 CP 143.50 Tỷ 12 9 9

Lý thuyết Dow là gì? 6 nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow

Nếu bạn là một nhà đầu tư về tài chính chuyên nghiệp thì bạn không thể không biết đến lý thuyết Dow. Đây chính là nền tảng cơ bản trong phương pháp phân tích kỹ thuật chứng khoán. Việc nắm vững lý thuyết Dow giúp nhà đầu tư dễ dàng hơn trong phân tích và dự đoán thị trường chính xác và hiệu quả. Từ đó, có thể đưa ra được những quyết định giao dịch đúng đắn. Vậy lý thuyết Dow là gì? Lý thuyết này gồm những nguyên lý nào? Lợi thế cũng như hạn chế của nó ra sao? Hãy theo dõi bài viết của chúng tôi để tìm câu trả lời nhé!

Lý thuyết DOW là gì?

Lý thuyết DOW là gì?Lý thuyết DOW là gì?

Lý thuyết Dow được xem là nền tảng và là viên gạch đầu tiên để nghiên cứu về phương pháp phân tích kỹ thuật. Tuy gặp phải vấn đề về độ trễ, trái ngược với mô hình Nến Nhật, nhưng nó vẫn luôn được nhiều nhà đầu tư coi trọng.

Lý thuyết Dow thể hiện sự biến động của thị trường chung, hay của từng mã cổ phiếu hoặc cặp tiền tệ nào đó. Khi thị trường chứng khoán tăng hoặc giảm, mặc dù có 1 số cổ phiếu đi ngược lại với thị trường nhưng theo nhiều nhà đầu tư thì ¾ số cổ phiếu sẽ giao động giống thị trường và chắc chắn mã cổ phiếu của bạn cũng ảnh hưởng ít nhiều về xu hướng.

Vì vậy, khi bạn mua cổ phiếu dựa vào phương pháp phân tích kỹ thuật thì cũng cần quan tâm đến chỉ số chung. Ví dụ: Khi mua cổ phiếu ở Việt Nam thì cần quan tâm đến chỉ số Vn-Index!

Lý thuyết Dow gắn liền với chỉ số trung bình chứng khoán mà ngày nay người ta biết đến  nó với cái tên: Chỉ số Dow Jone, tập hợp 30 cổ phiếu lớn và thuộc hàng đầu nước Mỹ. Chỉ số Dow Jone có thể hiểu giống như chỉ số VN30, còn P500 thì giống như chỉ số VNIndex.

Quá trình hình thành của lý thuyết Dow

Quá trình hình thành của lý thuyết Dow

Quá trình hình thành của lý thuyết Dow

Người được xem là cha đẻ của lý thuyết Dow chính là ông Charles H. Dow. Những nguyên lý cơ bản của lý thuyết này được hình thành thông qua hàng loạt các bài xã luận do ông viết và được đăng tải trên tờ Wall Street Journal. Những bài viết này thể hiện niềm tin của ông về cách thị trường chứng khoán phản ứng cũng như cách đo lường sức khỏe thị trường tài chính để tìm kiếm lợi nhuận.

 Năm 1902, Charles H. Dow qua đời 1 cách đột ngột khiến toàn bộ những tài liệu vẫn trong trạng thái dang dở. Vì vậy, 1 trong số các cộng sự của ông, tiêu biểu là William P. Hamilton cũng chính là người thay ông giữ chức vụ biên tập tờ Wall Street Journal để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và cho ra đời lý thuyết Dow như ngày nay.

Dow tin rằng thị trường chứng khoán nói chung chính là thước đo đáng tin cậy cho điều kiện tổng thể của 1 nền kinh tế. Và bằng phương pháp phân tích tổng thể người ta có thể đánh giá một cách chính xác các điều kiện đó cũng như xác định xu hướng chính của thị trường và hướng phát triển của từng cổ phiếu biệt lập.

Để làm được điều đó Dow chủ yếu dựa vào 2 chỉ số gồm:  Chỉ số đường sắt (nay là Chỉ số vận tải), chỉ số công nghiệp. Hai chỉ số này được Dow biên soạn và đăng tải trên Wall Street Journal. Ông cho rằng chúng có thể phản ánh một cách chính xác các điều kiện kinh doanh vì chúng gồm hai phân khúc kinh tế chính là: công nghiệp và đường sắt. Dù các chỉ số này đã có sự thay đổi trong suốt 100 năm qua nhưng lý thuyết của Dow vẫn được áp dụng và trở thành 1 trong những lý thuyết cơ bản nhất cho giao dịch chứng khoán cũng như cho thị trường tài chính thời hiện đại.

Tất cả lý thuyết phân tích kỹ thuật mà chúng ta biết như ngày hôm nay đều bắt nguồn từ lý thuyết Dow. Vì thế, nếu muốn hiểu rõ phân tích kỹ thuật trong chứng khoán bạn cần biết những nguyên lý cơ bản của thuyết Dow.

>> Tham khảo: Sóng Elliott là gì? Cách xác định, giao dịch với sóng Elliott

6 nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow là gì?

Những nguyên lý cơ bản của lý thuyết DowNhững nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow

Nguyên lý 1: Thị trường phản ánh mọi mặt

Tiền đề căn bản đầu tiên của lý thuyết Dow cho thấy tất cả các thông tin từ quá khứ đến hiện tại, thậm chí là tương lai đều ảnh hưởng tới thị trường, được phản ánh qua giá của cổ phiếu và chỉ số.

Thông tin mà Dow nói tới bao gồm tất cả mọi mặt từ cảm xúc nhà đầu tư đến lạm phát, dữ liệu lãi suất… Điều duy nhất bị loại trừ là những thông tin không thể biết trước đó là: động đất, sóng thần hay khủng bố… Tuy nhiên, ngay sau đó những thiệt hại của sự kiện này cũng được định giá vào thị trường.

Cần lưu ý rằng, theo Dow, thông tin không giúp nhà giao dịch hoặc chính bản thân thị trường biết được tất cả mọi thứ mà chỉ sử dụng để dự đoán các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai. Ngay cả các yếu tố xảy ra rồi, sắp xảy ra hoặc có thể xảy ra cũng sẽ được định giá vào thị trường. Khi mọi thứ có sự biến đổi, thị trường buộc phải điều chỉnh với giá cả để phản ánh theo các thông tin thay đổi đó. Ý tưởng này đã từng xuất hiện trong công trình của Eugene Fama ra đời vào năm 1960, có tên gọi giả thuyết là thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, lý thuyết Dow khác biệt ở việc nó được sử dụng để dự đoán xu hướng trong tương lai.

Không những vậy, thị trường phản ánh tất cả mọi mặt, thực tế không phải là điều mới mẻ với  các nhà giao dịch, vì chúng luôn được dùng trong lĩnh vực tài chính. Rất nhiều nhà đầu tư chỉ cần nhìn vào biến động giá mà không cần nhìn vào những yếu tố khác như chỉ báo. Chỉ báo cũng có thể xác định được xu thế thị trường.

Giống như phương pháp phân tích kỹ thuật chính thống, lý thuyết Dow chủ yếu chỉ tập trung vào giá cả. Tuy nhiên, khác ở chỗ, lý thuyết Dow có liên quan đến biến động toàn bộ thị trường hơn là việc chỉ thu hẹp trong thị trường chứng khoán.

Ví dụ, người theo lý thuyết Dow sẽ cân nhắc biến động giá theo các chỉ báo nằm trong xu hướng chính. Khi họ có ý tưởng về xu hướng trên thị trường, họ sẽ đưa ra quyết định nên hay không nên đầu tư. Nếu như xu thế chính là xu hướng tăng thì nhà đầu tư sẽ mua giao dịch cổ phiếu riêng lẻ với mức giá hợp lý.

Nguyên lý 2: Ba xu thế của thị trường

Trước khi đi vào phân tích chi tiết, cụ thể xu thế trong lý thuyết Dow, chúng ta cần hiểu xu thế là gì? Và dù thị trường khi có xu thế luôn di chuyển theo một hướng nhất định nhưng nó sẽ không bao giờ đi theo một đường thẳng mà sẽ tăng tới 1 mức nào đó để tạo thành đỉnh xu hướng, rồi sau đó giảm dần tạo thành đáy của 1 xu hướng. Tất nhiên dù là tăng hay giảm chúng vẫn sẽ di chuyển theo 1 hướng nhất định.

Theo Dow, ba xu thế của thị trường đó là: xu thế chính (hay xu thế cấp 1), xu thế phụ ( hay xu thế cấp 2) và xu thế nhỏ.

  • Xu thế chính 

Xu thế chính gồm cả 2 dạng là xu thế tăng và xu thế giảm. Về bản chất thì xu thế cấp 2 chính là đà làm ngăn cản sự phát triển của xu thế cấp 1.

Ví dụ khi thế giới đang trên đà phát triển thì đại dịch Covid 19 bất ngờ ập tới khiến mọi thứ rơi vào trạng thái đóng băng, trì trệ, suy giảm trầm trọng nền kinh tế.

Nhìn vào minh hoạ ta thấy, phần mũi tên bên trái màu đỏ tượng trưng cho xu thế chính đang là xu thế tăng, cứ sau 1 đà tăng lại có 1 đà giảm để kéo thụt lùi hoặc ngăn chặn không cho đà tăng đó tiếp tục. Và cái được gọi là“kẻ phá bĩnh”, làm rối loạn mọi thứ, ngăn chặn đà tăng phát triển được xem là xu thế cấp 2.

Tương tự, các đường màu đỏ bên phải trong 1 xu thế giảm có thể thấy cứ sau đà giảm sẽ xuất hiện những đà tăng và đây cũng được xem là xu thế cấp 2, làm ngăn chặn đà giảm giá tiếp tục tiếp diễn.

Vì thế, điểm mấu chốt ở đây đó là:  Xu thế tăng chỉ được tiếp diễn khi và chỉ khi nó phải luôn tạo ra các đỉnh cao hơn và đáy cũng cao hơn. Hay nói cách khác thì đỉnh sau phải cao hơn đỉnh trước và đáy sau phải cao hơn đáy trước giống như các bậc thang.

Xu thế cấp 1 (xu thế chính) chính là xu thế tăng sẽ tạo các đỉnh cao hơn và đáy cao hơn.

Ví dụ dưới đây cho ta thấy, vàng đã liên tiếp tạo ra được các đỉnh cao hơn và đáy cũng cao hơn, thậm chí vàng cũng từng giảm điều chỉnh. Tuy nhiên, vùng giảm điều chỉnh này vẫn ngang bằng với đáy ở phía trước chứ không hề thấp hơn. Và ngay sau đó vàng đã có 1 nhịp tăng rất mạnh, rồi lại tiếp tục điều chỉnh giảm nhưng lại không thể tạo ra đáy thấp hơn nên đây có thể xem như 1 cuộc lấy đà để tiếp tục tăng.

Trong khi đó, nếu xu thế chính là xu thế giảm đồng nghĩa sẽ tạo ra các đỉnh thấp hơn và các đáy thấp hơn:

Nhìn vào ví dụ về cặp tiền EURUSD, trong suốt năm 2019 đã liên tục tạo ra các đỉnh thấp hơn và các đáy thấp hơn nên tiền EURUSD giảm rất mạnh.

Sau nhiều lần đà giảm, tiền EURUSD đã phục hồi tăng lên, tuy nhiên EURUSD lại thể không tạo ra được các đỉnh cao hơn, nên sau đà hồi, EURUSD giảm rất mạnh.

Thời gian để hình thành 1 xu thế

Theo lý thuyết Dow, xu thế chính được xem là xu hướng lớn nhất có thể kéo dài hàng năm. Trong khi đó, xu thế phụ chỉ có thể kéo dài ba tuần đến ba tháng và thường ngược lại với xu hướng chính. Cuối cùng, xu thế nhỏ thường sẽ kéo dài dưới ba tuần và có liên quan đến những chuyển động giá trong xu thế phụ.

Một điểm lưu ý đó là cho dù xu thế chính có kéo dài đến bao lâu thì chúng vẫn có tác dụng cho đến khi có 1 xu hướng đảo chiều xuất hiện.

Cũng theo Dow, xu thế cấp 1 là xu thế quan trọng nhất để xác định thị trường, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến sự biến động về mặt giá cả cũng như tác động đến xu thế cấp 2 và xu thế nhỏ.

Vì vậy, các bạn phải giao dịch đúng xu hướng. Nếu thị trường đang ở trong xu thế tăng thì chỉ nên ưu tiên thực hiện lệnh BUY, ngược lại nếu thị trường đang ở trong xu thế giảm, chủ yếu thực hiện lệnh SELL.

  • Xu thế phụ

Đây được xem là thời điểm “lấy đà”, truyền công lực để xu thế cấp 1 được tiếp diễn. Ngoài ra, xu thế phụ luôn đi ngược lại với xu thế chính. 

Nếu xu thế chính đang ở mức tăng thì xu thế phụ sẽ là những đoạn điều chỉnh giảm. Ngược lại, nếu xu thế chính là đang giảm thì các giai đoạn điều chỉnh là giá phục hồi để sau đó giá tiếp tục giảm tiếp.

  • Xu thế nhỏ

Xu thế nhỏ theo lý thuyết Dow thì nó không kéo dài quá 3 tuần và dùng để điều chỉnh hoặc có những biến động giá đi ngược lại với xu thế phụ.

Do có tính chất ngắn hạn nên xu thế nhỏ không nằm trong mối quan tâm lớn đối với nhà giao dịch. Nhưng điều này không có nghĩa là nhà giao dịch bỏ qua chúng hoàn toàn. Xu thế nhỏ vẫn phải được theo dõi bởi những biến động giá ngắn hạn cũng là một phần nằm trong xu thế chính và xu thế phụ.

Hầu hết nhà đầu tư đều chỉ tập trung giao dịch theo xu hướng cấp 1 và các xu hướng còn lại thường không rõ ràng hoặc bị nhiễu. Nếu quá tập trung vào những xu hướng nhỏ, nó sẽ có thể dẫn đến sai lầm, các nhà giao dịch thường bị phân tâm bởi biến động ngắn hạn và mất đi tầm nhìn tổng quát cho bức tranh thị trường lớn hơn.

Nguyên lý 3: Ba giai đoạn chính của xu thế 1

Xu thế cấp 1 là xu thế tăng nên nó sẽ có 3 giai đoạn chính gồm: giai đoạn tích lũy ( hay giai đoạn phân phối), giai đoạn bùng nổ và giai đoạn quá độ.

Ngược lại, 3 giai đoạn của thị trường giảm sẽ là: giai đoạn phân phối, giai đoạn giảm sâu và giai đoạn tuyệt vọng (panic phase).

Xu hướng tăng chính( hay thị trường bò)

  • Về giai đoạn tích lũy 

Đây chính là giai đoạn ngắn hạn, nằm ở vị trí đầu tiên của 1 thị trường tăng và cũng là thời điểm mà rất ít nhà giao dịch tham gia vào thị trường.

Giai đoạn này thường nằm ở cuối xu thế giảm, khi mọi thứ gần như đang trong thời kỳ tồi tệ nhất. Nhưng đây cũng là lúc mà giá của thị trường cực kỳ hấp dẫn bởi vì vào thời điểm này, hầu hết các tin tức xấu đều đã được tung ra, áp lực bán tan biến hầu như không thể giảm thêm được nữa nên sẽ không có rủi ro về giá giảm. Tuy nhiên, giai đoạn tích lũy cũng chính là giai đoạn khó phát hiện nhất, nhà giao dịch khó có thể nhận biết được xu thế giảm đã thực sự kết thúc hay chưa.

  • Về giai đoạn bùng nổ

Khi nhà đầu tư tham gia thị trường trong giai đoạn tích lũy ngày càng nhiều, nghĩa là họ bắt đầu tin rằng thời kỳ tồi tệ nhất đã qua và thời kỳ phục hồi đang tới.

Khi điều này thành hiện thực, tâm lý tiêu cực bắt đầu vơi bớt, điều kiện kinh doanh được đánh dấu bằng sự tăng trưởng thu nhập và dữ liệu về kinh tế mạnh mẽ được cải thiện. Lúc này, những tin tức lạc quan bắt đầu được tung ra, kéo các nhà đầu tư quay trở lại, đẩy giá ngày càng tăng cao hơn.

Giai đoạn này không chỉ kéo dài nhất mà nó còn là giai đoạn có sự biến động về giá lớn nhất. Đó cũng là giai đoạn mà hầu như các nhà giao dịch kỹ thuật và xu hướng bắt đầu có những vị thế dài hạn và thu lợi nhuận.

  • Về giai đoạn quá độ

Khi thị trường tăng quá lớn, bên mua bắt đầu trở nên yếu thế, lúc này thị trường sẽ chuyển sang giai đoạn quá độ (hay giai đoạn cuối cùng trong xu hướng tăng), đó cũng là giai đoạn mà rất nhiều nhà đầu cơ tích lũy bắt đầu tìm cách để thu hẹp vị thế, bán chúng cho những người tham gia thị trường. Tại thời điểm này, theo Alan Greenspan đó chính là một “sự phấn khích phi lý”.

Đây cũng là giai đoạn người mua cuối cùng bắt đầu tham gia thị trường – sau khi đã đạt được lợi nhuận lớn. Giống như các con cừu để giết thịt, những người tham gia muộn hy vọng lợi nhuận vẫn sẽ tiếp tục sau khi bỏ lỡ nhiều cơ hội trước đó. 

Trong giai đoạn quá độ có rất nhiều dấu hiệu cho thấy sức mua giảm hay xu hướng đang dần trở nên yếu đi. Và cũng là dấu hiệu phản ánh xu thế trên đang nằm ở điểm bắt đầu cho một xu hướng giảm chính.

Xu hướng giảm chính( hay xu hướng gấu)

  • Về giai đoạn phân phối

Giai đoạn đầu tiên trong xu hướng gấu được gọi là giai đoạn phân phối. Đây cũng là giai đoạn nằm ngay sau giai đoạn quá độ của xu thế cấp 1.

 Giai đoạn phân phối trái ngược với giai đoạn tích lũy trong thị trường tăng ở chỗ có rất nhiều nhà đầu tư tin giá sẽ tiếp tục, tiếp tục đẩy lên cao hơn, kéo theo nhiều nhà đầu tư rất lạc quan về thị trường, kỳ vọng giá sẽ tăng lên cao. Đây cũng là giai đoạn mà nhà đầu tư cuối cùng trên thị trường tiếp tục mua. Và dĩ nhiên họ không biết rằng họ đang thực sự đu đỉnh rồi.

Chúng ta cũng thấy rằng dường như lúc này giá cả không thể tạo các đỉnh cao hơn và đáy cao hơn. Thay vào đó, nó dần dần tạo ra các đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn.

  • Về giai đoạn giảm mạnh

 Đây là giai đoạn giá bắt đầu lao dốc với tốc độ rất mạnh.

Tương tự như xu hướng bò, thay vì liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn hoặc đáy cao hơn để xác nhận đó là 1 xu thế tăng thì vào giai đoạn giảm mạnh chỉ tạo ra các đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn.

Lúc này, điều kiện kinh doanh trở nên vô cùng tồi tệ, đồng loạt các tin xấu được tung ra, giống như đòn giáng trực tiếp vào nhà đầu tư. Khiến cho họ rơi vào trạng thái hoang mang cực độ, khiến cho áp lực bán tháo xuất hiện, làm cho giá càng ngày càng giảm mạnh.

  • Về giai đoạn tuyệt vọng

Đây là giai đoạn cuối cùng của thị trường giảm cũng chính là giai đoạn khởi đầu cho 1 xu thế tăng sắp sửa được hình thành.

Đây cũng là giai đoạn chứa nhiều nhất sự hoảng loạn và cũng rất dễ dẫn đến việc bán tháo (panic sell). Trong giai đoạn này,  thị trường dường như toàn màu xám xịt, nhà giao dịch có tâm lý tiêu cực bởi những hy vọng mong manh về nền kinh tế và thị trường nói chung. Do đó, họ gần như không quan tâm về vấn đề giá cả, chỉ mong thoát được hàng càng sớm càng tốt. 

Nhưng khi mọi thứ có vẻ là tồi tệ nhất đang diễn ra lại là lúc giai đoạn tích lũy của một xu hướng tăng chuẩn bị bắt đầu.

Và cứ như vậy chu kỳ được lặp lại liên tục, qua năm này đến năm khác, qua thế kỷ này đến thế kỷ khác.

Nguyên lý 4: Chỉ số bình quân phải được xác nhận lẫn nhau

Đối với lý thuyết Dow, việc đảo chiều từ thị trường tăng sang thị trường giảm không thể nào được xác nhận nếu không có sự xác nhận từ 2 chỉ số là Chỉ số trung bình công nghiệp và chỉ số đường sắt.

Điều này có nghĩa rằng những tín hiệu xảy ra trên biểu đồ của chỉ số này phải trùng khớp hoặc tương ứng với những tín hiệu xảy ra trên biểu đồ của chỉ số khác.

Ví dụ: nếu chỉ số công nghiệp Dow Jones xác nhận 1 xu hướng giá tăng, nhưng chỉ số Trung bình vận tải Dow Jones vẫn đang nằm trong xu hướng giá giảm thì không thể nào xác nhận được xu thể tăng có thể xảy ra.

Nguyên lý 5: Khối lượng giao dịch là điều kiện để xác nhận xu hướng

Theo lý thuyết Dow, các tín hiệu để mua và bán dựa trên sự biến động giá. Chính vì thế, khối lượng cũng được sử dụng giống như một chỉ báo để giúp xác nhận những điều thị trường đang gợi ý cho nhà giao dịch.

Từ nguyên lý này cho ta thấy, trong 1 xu hướng giá tăng, khối lượng cũng sẽ tăng theo khi giá di chuyển theo đúng xu hướng và giảm khi mà giá di chuyển theo hướng ngược lại. Ví dụ, trong một xu hướng tăng, khối lượng sẽ tăng khi giá tăng và giảm khi giá giảm.

Như vậy trong trường hợp khối lượng đi ngược với xu hướng (giá tăng nhưng khối lượng giao dịch giảm, giá giảm nhưng khối lượng giao dịch lại tăng) đó chính là dấu hiệu của sự yếu kém trong xu hướng hiện tại và rất có thể sẽ có sự đảo chiều xu hướng trong thời gian tới.

Nguyên lý 6: Xu hướng duy trì cho đến khi xuất hiện dấu hiệu đảo chiều 

Việc xác định xu hướng nhằm mục đích cho chúng ta không giao dịch ngược hoặc chống lại xu hướng. Theo lý thuyết Dow, nguyên lý 6 cũng là nguyên lý cuối cùng để tin rằng một xu hướng vẫn có hiệu lực cho đến khi có sự xuất hiện nhiều dấu hiệu cho thấy nó đã bị đảo chiều.

Nhà giao dịch cần kiên nhẫn chờ đợi 1 cách rõ ràng về việc đảo ngược xu hướng bởi vì như ở nguyên lý 2 chúng ta biết rằng thị trường sẽ có nhiều xu hướng nhỏ, xu hướng thứ cấp nên dễ gây nhầm lẫn rằng đó thực sự là xu hướng chính hay chỉ là sự điều chỉnh xu hướng.

>> Tham khảo: Chỉ số dow jones future - Đầu tư với chỉ số dowjone future

Hạn chế của lý thuyết Dow

Hạn chế của lý thuyết Dow

Hạn chế của lý thuyết Dow

Trải qua hơn 100 năm tồn tại và phát triển, nhưng đến ngày nay lý thuyết Dow vẫn được ứng dụng khá nhiều. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng lý thuyết này đúng hoàn toàn. Một vài điểm hạn chế còn tồn tại trong lý thuyết Dow đó là:

  • Thứ nhất là độ trễ lớn

Trong nguyên lý 3, Dow chia xu thế chính thành 3 giai đoạn hỗ trợ. Nếu nhà đầu tư tuân theo nó và chỉ mua vào, bán ra ở giai đoạn bùng nổ và tuyệt vọng thì đồng nghĩa sẽ bỏ lỡ mất cơ hội kiếm được nhiều lợi nhuận ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của biến động.

  • Lý thuyết này chỉ đúng trong một số trường hợp

Trong nguyên lý 1, lý thuyết Dow chỉ ra các yếu tố như lạm phát, cảm xúc của nhà đầu tư hay lãi suất đều có ảnh hưởng đến giá cả. Nhưng ông lại bỏ qua các yếu tố thiên tai như: động đất, sóng thần hoặc các vấn đề về chính trị… Mà trong thực tế các yếu tố này lại tác động rất nhiều đến giá cả trên thị trường.

  • Ít có sự áp dụng  khi giao dịch trung hạn và ngắn hạn

Lý thuyết Dow đặc biệt chú trọng vào xu hướng chính nên nhà đầu tư cần đợi tạo đỉnh và đáy rõ ràng. Điều này khiến cho nhà đầu tư tốn nhiều thời gian phân tích và tìm ra xu thế chính mà bỏ qua cơ hội đầu tư trung hạn và ngắn hạn. Điều này sẽ gây bất lợi cho những nhà đầu tư giao dịch scalping, swing trading, day trading. 

  • Nhà đầu tư khó xác định xu thế

Dow chia thị trường thành 3 giả định gồm: xu thế chính, xu thế phụ và xu thế nhỏ. Ba xu thế này được hình thành do giá tăng hoặc giảm trong một khoảng thời gian nào đó. Tuy nhiên, trong thực tế giá lại biến động liên tục nên nhà đầu tư sẽ khó xác định chính xác được các xu thế kết thúc. Từ đó dễ đưa ra những quyết định đầu tư sai lầm.

Kết luận

Vừa rồi, chúng tôi đã cung cấp cho bạn đọc rất nhiều thông tin hữu ích về lý thuyết Dow. Mặc dù lý thuyết này còn tồn tại một vài hạn chế nhưng chúng ta không thể phủ nhận những hiệu quả mà nó mang lại. Hy vọng bài viết này đã giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lý thuyết Dow. Từ đó bạn có những lựa chọn kỹ càng cho quyết định đầu tư. 

FTV - đơn vị chuyên tư vấn và đầu tư chứng khoán và hàng hóa phái sinh uy tín hiện nay

Với phương châm hành động theo: TÂM – TÍN – TIN – TRÍ – TRỊ, FTV chúng tôi luôn cố gắng học hỏi, phục vụ Khách hàng theo cách tốt nhất để “CÙNG NHAU KIẾN TẠO TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP HƠN!“.

Nếu có câu hỏi thắc mắc nào về lý thuyết Dow hoặc cần hỗ trợ đầu tư hãy liên hệ đến chúng tôi qua HOTLINE 0983 668 883 để được giải đáp nhanh nhất.

Xem thêm:

GỬI BÌNH LUẬN MỚI
Gửi bình luận
Bình luận